VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh kháng nghị giám đốc thẩm vụ án “Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn”

phan chia tai san khi ly hon 1

Nội dung vụ án

Theo Quyết định số 145/2014/QDST-HNGĐ ngày 25/11/2014 của TAND huyện Q, tỉnh K thì bà H và ông L thuận tình ly hôn, tài sản chung hai bên tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nhiều năm sau, bà H đã làm đơn lên Tòa án yêu cầu chia tài sản chung. Ngày 02/01/2019, TAND huyện Q đã thụ lý vụ án và ngày 04/01/2021, tiến hành hòa giải. Bà H, ông L cùng xác nhận ngày 18/10/2016, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Q xét hỗ trợ một nền đất tái định cư và đã bốc thăm nền tái định cư tại khu 73 ha thuộc ấp S, xã D, huyện Q, tỉnh K (thuộc khu D3, lô 10, diện tích 122m, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Hai bên thống nhất giá trị thửa đất theo theo biên bản định giá ngày 24/8/2020 của Công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá Miền Nam là 8.725.000đồng/m, tổng cộng là 1.064.450.000 đồng.

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 12/2021/QĐST-HNGĐ, TAND huyện Q, tỉnh K quyết định: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Cụ thể:  ông L đồng ý giao cho bà H được quyền sử dụng nền đất tái định cư nêu trên, bà H có nghĩa vụ giao giá trị chênh lệch cho ông L số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn giao tiền là ngày 30/01/2021. Ngoài ra, quyết định sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.





phan chia tai san khi ly hon 1

Ảnh minh họa

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, nhận thấy có nhiều vi phạm trong việc xác định tài sản, người tham gia tố tụng nên ngày 06/01/2023, Viện trưởng VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 28/QĐ-VKS-DS đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 12/2021/QĐST-HNGĐ, giao hồ sơ vụ án về cho TAND huyện Q, tỉnh K giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Kết quả, ngày 06/3/2023, Ủy ban thẩm phán TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh đã chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Theo Biên bản số 270/BB-HD ngày 18/10/2016 và Công văn số 170/BBT- TDD ngày 24/7/2019 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Q thì hộ ông L (gồm 04 nhân khẩu: ông L, bà H và 02 người con) đã bốc thăm nền đất tái định cư thuộc khu 73ha ấp S, xã D, huyện Q (thuộc khu D3 lô 10, diện tích 122m), chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn với ông L đối với quyền sử dụng đất trên.

Tuy nhiên, ngày 21/01/2017, ông L chuyển nhượng quyền sử dụng nền đất nêu trên cho ông T (giao dịch bằng giấy viết tay) với giá 120.000.000 đồng. Ngày 16/4/2018, ông T chuyển nhượng lại lô đất trên (cũng bằng viết giấy tay) cho bà H với giá 1.600.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông L không khai thông tin đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho Tòa án được biết, đồng thời, ngày 05/12/2019, Tòa án cấp sơ thẩm và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành thẩm định, định giá, đo đạc lô đất cũng không ai ngăn cản, khiếu nại, hiện trạng đất không có cây trồng hay công trình kiến trúc. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không thể biết để xác minh đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, đây không phải là lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

Đối với việc ông L che giấu thông tin chuyển nhượng, đồng thời thỏa thuận giao tài sản cho bà H và nhận lại giá trị tài sản số tiền 250.000.000 đồng trong khi theo Chứng thư thẩm định giá số 20/08/204/BDS-PQ ngày 24/8/2020 của Công ty cổ phần Thông tin và thẩm định giá Miền Nam thể hiện giá trị tài sản là 1.064.450.000 đồng là có dấu hiệu trốn tránh nghĩa vụ đối với người nhận chuyển nhượng.

Do đó, khi giải quyết lại, Tòa án cấp sơ thẩm cần xác minh, đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, đồng thời thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ về tài sản, xác định quyền sở hữu tài sản, hiệu lực của các giao dịch chuyển nhượng, sự liên quan của bà H đối với các giao dịch do ông L thực hiện để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự./.


Nguồn:kiemsat.vn

All in one