BÁO CÁO TÍNH TOÁN VÀ MAY VIỆT NAM Quý 2/2016



Sự suy giảm nghiêm trọng của ngành dệt may trong năm 2009 do cuộc khủng hoảng toàn cầu gây ra đã mang lại cả lợi thế và bất lợi cho Việt Nam. Do đó, báo cáo này đưa ra phân tích chuyên sâu về Dệt may trên toàn thế giới và Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính. Trong năm năm tới, các thị trường mới nổi với quy mô dân số lớn như Trung Quốc và Ấn Độ dự kiến ​​sẽ tăng đáng kể cả về cung và cầu, trong khi con số của các nước phát triển được ước tính sẽ giảm tốc. Việc chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng tăng tốc nhờ sự ổn định chính trị và chi phí lao động rẻ. Tình hình này mang đến cho Việt Nam một cơ hội quý giá để thúc đẩy doanh thu xuất khẩu hàng dệt may trong những năm tới.

Các nhà nghiên cứu của VIRAC đưa ra triển vọng toàn diện của ngành dệt may Việt Nam trong những năm gần đây bằng cách bao gồm tất cả các yếu tố đóng góp, bao gồm tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách của chính phủ liên quan, tác động dự kiến ​​của FTA và bản chất của ngành. Trong số các hiệp định thương mại nước ngoài gần đây, TPP, VKFTA và EVFTA có ảnh hưởng nhất đến ngành. Cùng với việc giảm thuế hấp dẫn từ các đối tác chiến lược, Việt Nam phải đối phó với các quy tắc hạn chế về xuất xứ, tiêu chuẩn lao động và các rào cản thương mại kỹ thuật. Để được hưởng các ưu đãi về thuế, Việt Nam cần tăng cường năng lực sản xuất trong nước, đặc biệt là trong một số giai đoạn yếu kém, để đạt được sự tăng trưởng bền vững.

Báo cáo sử dụng cách tiếp cận chuỗi giá trị đối với ngành Dệt may của Việt Nam. Việt Nam chủ yếu có lợi thế trong các công đoạn may và kéo sợi tương đối nhiều lao động và mang lại giá trị gia tăng thấp. Hơn nữa, trong vài năm, nó vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu thô và chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Sản xuất bông, sợi và vải địa phương không đáp ứng được nhu cầu của các công ty sản xuất quần áo trong nước về cả chất lượng và chủng loại. Mặc dù là một trong những nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới, ngành công nghiệp này chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong GDP hàng năm của Việt Nam. Thị trường may mặc trong nước nhỏ, ước tính khoảng 3 tỷ USD, và bị chi phối bởi hàng hóa nước ngoài. Chỉ có một vài công ty địa phương thành công trong việc xây dựng thương hiệu và mạng lưới phân phối của họ vì hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa chú ý đầy đủ đến R & D.

Ngoài ra, phân tích và dự báo mở rộng được bao gồm trong giai đoạn 2016 đến 2020. Báo cáo cũng chỉ ra các mục tiêu cấp bách của Việt Nam và so sánh hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp hàng đầu trong thị trường may mặc trong nước từ năm 2013 đến 2014.

Báo cáo này bao gồm các điểm chính:

Yếu tố gốc ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường kinh doanh.

Dữ liệu chi tiết về tất cả các lĩnh vực của ngành dệt may Việt Nam và thị trường may mặc toàn cầu, bao gồm nhưng không giới hạn ở:

Thế giới T & G thương mại, bông, sợi, sản xuất và tiêu thụ vải;

Chi phí lao động của một số nước chế biến chính (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, v.v.);

Thương mại T & G giữa các nước TPP;

Thuế xuất nhập khẩu trung bình của các nước TPP;

Cơ cấu FDI trong ngành dệt may;

Doanh thu xuất khẩu của Việt Nam T & G;

Sản xuất trong nước và tiêu thụ bông, sợi / sợi, vải, may mặc, v.v.;

Tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam;

Báo cáo tài chính của các cầu thủ trong nước hàng đầu trong ngành.

Chuỗi giá trị dệt may.

Tiềm năng và thách thức của ngành công nghiệp Việt Nam dựa trên các mô hình chiến lược cụ thể.

Nguồn: https://www.kenresearch.com/consumer-products-and-retail/textile-apparel-and-footwear/vietnam-textile-garment-comp toàn diện / 31307-95.html

Hoang Gia News

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Translate »

Call Now